.

Articles by "Danh-nhan-nganh-y"

ALS Alzheimer An - day - mo an hoa residence long hai resort website an hoa residence luxury villas Anoa Dussol Perran atlas-sieu-am Bac-si-noi-tru Bai-tap-huu-ich bang-can-nang-thai-nhi benh-als benh-als-la-gi Benh-co-tim Benh-Dau-Mat-Do benh-dau-vai-gay Benh-mach-vanh Benh-mang-ngoai-tim Benh-o-nam-gioi Benh-o-nguoi-gia Benh-o-phu-nu Benh-o-tre-nho Benh-phu-khoa-khac Benh-tim-bam-sinh Benh-tu-cung Benh-van-tim Benh-xa-hoi Bệnh an - dây mơ bệnh viêm phổi cấp tính bệnh viêm phổi lạ Buong-trung Cac-benh-thuong-gap Cac-cung-dong-mach-gan-tay Cac-dong-mach-vanh-tim Cac-hoi-chung-dot-bien-so-luong-nhiem-sac-the Cac-khoi-u-trong-tim Cac-lien-quan-cua-da-day Cac-phuong-tien-giu-tu-cung-tai-cho Cac-thuy-nao Cac-u-lanh-tinh Cac-xoang-tinh-mach-nhom-truoc-duoi Cac-xoang-tinh-mach-so-nhom-sau-tren Cach-chua-dau-mat-do cach-chua-vet-bam-tim cach-lam-tan-mau-bam cach-phong-chong-dich-ebola cach-phong-dich-soi Can-lam-sang-khac can-nang-thai-nhi cap-nhat-dich-benh-ebola cap-nhat-tinh-hinh-ebola Cau-tao-cua-tim Cau-tao-cua-tuy-song Chan-doan-hinh-anh chua-vet-bam-tim chuan-bang-theo-doi-can-nang-thai-nhi Chuyen-khoa Chuyen-khoa-sau Co-nhai Co-the-hoc-thai-binh-thuong Da-lieu Da-thai-song-thai Dam-roi-canh-tay Dam-roi-than-kinh-canh-tay Dam-roi-that-lung Dam-roi-that-lung-cung Danh-nhan-nganh-y Danh-sach-truong-cap-hoc-bong dau-vai-gay day-5 de-thi-bac-si-noi-tru-mon-ngoai-2014 De-thi-nam-2013 De-thi-nam-2014 De-thi-nam2012 Di-tat-he-co-xuong Di-tat-he-ho-hap Di-tat-he-than-kinh Di-tat-he-tiet-nieu-sinh-duc Di-tat-he-tieu-hoa Di-tat-he-tuan-hoan Di-tat-khuyet-thanh-bung dịch SARS dich-benh-nguy-hiem Dich-Dau-Mat-Do dich-ebola dich-soi dieu-tri-benh-ebola dieu-tri-ebola Dinh-duong-cho-co-the Dong-mach-canh-chung Dong-mach-canh-tay Dong-mach-canh-trong Dong-mach-chay-sau Dong-mach-chay-truoc Dong-mach-cua-da-day Dong-mach-dui Dong-mach-khoeo Dong-mach-nach Dong-mach-quay Dong-mach-tru Dong-mach-tu-cung Du-hoc Duong-dan-truyen-cam-giac-dau-nhiet Duong-dan-truyen-cam-giac-sau-co-y-thuc Duong-dan-truyen-cam-giac-xuc-giac Duong-dan-truyen-van-dong-co-y-thuc-co-than-chi Duong-dan-truyen-van-dong-co-y-thuc-o-dau-mach duong-laylan-virus-ebola ebola Gioi-han-va-phan-chia-vung-co-truoc-ben Guinea He-thong-tinh-mach-don Hinh-anh-sieu-am-bat-thuong-va-di-tat-phat-hien-som-trong-3-thang-dau Hinh-anh-sieu-am-binh-thuong-trong-3-thang-dau-tam-ca-nguyet-I Hinh-the-ngoai-cua-tim Hinh-the-ngoai-dai-nao Hinh-the-va-lien-quan-cua-tu-cung Hoa-sinh Hoi-dap International-SOS-tuyen-dung Khop-goi Khop-hong Kiem-tra-dinh-ki Kinh-nghiem-apply-ho-so Kinh-nghiem-on-thi Kinh-nguyet Lao-khoa Liberia Lien-quan-cua-khoi-ta-trang-co-dinh-va-dau-tuy Lien-quan-cua-Than Mac-noi-nho mau-benh-an mau-benh-an-san mau-benh-an-san-phu-khoa Mo-ta-cac-nhanh-cua-dam-roi-that-lung Mo-ta-cac-nhanh-cua-dam-roi-that-lung-cung Mo-ta-mot-so-co-dui Mo-ta-tam-giac-dui-va-ong-co-khep moi-vai-gay Mon-giai-phau Môn Nội khoa - Tài liệu ôn thi bác sĩ nội trú - Đại học Y Hà Nội Ngan-hang-cau-hoi Ngan-hang-de-thi Ngoai Ngoai-khoa Nguồn Bác sĩ đa khoa Chuyen-khoa người phụ nữ huyền thoại Nhan-khoa Nhi Nhi-khoa Nigeria Nina-Pham Nina-Phạm Noi Noi-khoa Ong-ben Ong-nguc Pha-thai phac-do-dieu-tri-dich-ebola Phan-doan-va-lien-quan-cua-nieu-quan phap-do-dieu-tri-virus-ebola phòng chống viêm phổi lạ phong-chong-dau-mat-do phong-chong-say-xe phong-dich-ebola phong-dich-soi phong-virus-ebola phu-ebola Phu-khoa phu-mo-ebola Rang-ham-mat Sach-y-khoa San San-phu-khoa sanctuary SARS Say-xe Sierra Leone Sieu-am-doppler-trong-san-phu-khoa Sieu-am-mach-mau Sieu-am-Mmode Sieu-am-nhau-thai-oi-day-ron Sieu-am-o-bung Sieu-am-phan-phu-tu-cung-buong-trung Sieu-am-thai Sieu-am-tim siêu âm bác sĩ phương siêu âm thai Sinh-ly So-sanh-than-kinh-giao-cam-va-doi-giao-cam So-sanh-than-kinh-than-the-va-than-kinh-tu-chu sos-tuyen-dung Suc-khoe-dinh-duong Suc-khoe-sinh-san Tai-lieu-on-thi Tai-mui-hong Tam-than-hoc Than-kinh-giua Than-kinh-ham-duoi Than-kinh-ham-tren Than-kinh-mat Than-kinh-quay Than-kinh-tru Than-kinh-tu-chu-cua-tim Thong-tin-y-te Thuc-quan thuoc-tri-HIV Tieng-anh Tieng-phap tim-hieu-benh-als tim-hieu-dau-vai-gay Tin-tuc Toan trieu-chung-dau-mat-do Trung-that Truyen-nhiem Tui-mac-noi Tuyen-dung vaccine-dieu-tri-virus-ebola vet-bam-tim Vi-tri-va-hinh-the-ngoai-cua-tuy-song viêm phổi cấp tính viêm phổi lạ virus corona virus-Adenovirus virus-ebola vu hán trung quốc vũ hán trung quốc WHO Y-hoc-di-truyen Y-hoc-pho-thong Y-ta-my
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh-nhan-nganh-y. Hiển thị tất cả bài đăng

Bác sĩ Richard Teo Keng Siang, 40 tuổi, triệu phú ngành giải phẫu thẩm mỹ ở Singapore, phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn cuối khi ở đỉnh cao nhất của tiền tài, danh vọng.
Lời trăn trối của bác sĩ qua đời vì ung thư

Từ nhỏ, bác sĩ Richard Teo luôn đứng đầu trường trong mọi môn học, từ khoa học đến thể thao. Khi vào ngành y, ông chọn giải phẫu thẩm mỹ vì lợi nhuận của nó vượt qua các ngành nghề khác. Ông trở thành một triệu phú chóng vánh.

Tháng 3/2011, bác sĩ Richard Teo được chẩn đoán bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Ông qua đời cuối năm 2012. Câu chuyện cảm động và những lời chia sẻ của ông trước khi mất vài ngày đã và đang được thanh niên khắp nơi theo dõi, lan truyền trên các trang mạng xã hội, được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Dưới đây là trích đoạn những tâm sự của bác sĩ Richard Teo về tiền tài, danh vọng, hưởng thụ... với sinh viên tại khóa Nha khoa D1 ở Singapore, tháng 11/2011, 8 tháng sau khi bị chẩn đoán ung thư:

"Tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới trung bình. Tôi học được từ mọi người xung quanh và môi trường sống rằng có thành công thì mới hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi luôn ganh đua ngay từ nhỏ.

Không chỉ học ở trường giỏi, tôi cần thành công trong mọi lĩnh vực, từ các hoạt động tập thể đến chạy đua. Tôi cần đoạt được cúp, phải được giải cao nhất. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, phẫu thuật mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi đã vào được và đạt học bổng nghiên cứu của ĐH quốc gia Singapore.

Bác sĩ Richard Teo tại cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ của mình trước khi biết bị ung thư. Ảnh: Richardteo.com.
Trong khi nghiên cứu, tôi có hai bằng phát minh, một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng tất cả thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Sau khi học hoàn tất, tôi thấy theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Tôi quyết định bỏ ngành phẫu thuật mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.

Một người có thể không vui vẻ khi trả 20 USD cho một bác sĩ tổng quát nhưng không ngần ngại trả 10.000 USD để hút mỡ bụng, 15.000 USD sửa ngực… Do vậy, thay vì chữa bệnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bệnh nhân đến rất đông. Tôi mướn một, hai, ba rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thể nào là đủ vì tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu bành trướng sang thị trường Indonesia để làm phẫu thuật cho những người giàu ở đó. Họ phung phí tiền bạc một cách dễ dàng. Làm tiền ở đó quá dễ...

Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi. Thỉnh thoảng tôi dự đua xe ở Sepang, Malaysia. Tôi mua một chiếc Ferrari 430. Sau khi có xe, tôi mua nhà, khu nghỉ mát. Tôi nghĩ phải hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng và bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng Internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp. Đó là tôi của một năm trước đây. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại mình hay vận động mạnh. Tôi đến Bệnh viện đa khoa Singapore và nhờ bạn học chụp cộng hưởng từ để xem có phải bị trật đốt sống hay không. Rồi tôi thực hiện PET scans và được phát hiện đang ở giai đoạn 4 của ung thư phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3-4 tháng tối đa. Tôi chán nản, tuyệt vọng.

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có - sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa - tất cả những thứ tôi nghĩ mang hạnh phúc - khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari ngủ. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong những tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua.

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng tên là Jennifer. Khi chúng tôi đi bộ, nếu thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm thế, sao phải bẩn tay chỉ vì một con ốc sên? Sự thật là cô ta đã cảm được rằng con ốc có thể bị đạp nát chết nếu nằm đó. Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tự nhiên thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm nhưng tôi không có. Là một bác sĩ trực trong bệnh viện chuyên trị ung thư NUH (National University Hospital), tôi từng chứng kiến bao nhiêu người chết. Tôi đã thấy họ đau đớn và chịu sự tàn phá của cơ thể vì cơn đau. Tôi cũng đã chứng kiến bệnh nhân nhấn nút morphine tiêm vào máu từng giờ từng phút vì không chịu nổi sự đau đớn dày vò. Nhiều bệnh nhân phải dùng oxygene để thở hơi thở cuối cùng. Nhưng đó là công việc. Khi xong việc tôi chỉ muốn chạy ngay về nhà vì nghĩ là đã hoàn tất công việc hằng ngày.

Tôi thực sự không hiểu họ đau đớn như thế nào cho đến khi tôi là bệnh nhân. Nếu được làm lại từ đầu với cương vị một bác sĩ, tôi sẽ đổi khác. Vì tôi đã trải qua cơn đau đớn mà bệnh nhân vấp phải nên tôi rất hiểu họ chịu đựng sự dày vò của đau đớn như thế nào.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Tôi trở nên mê muội đến nỗi chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa. Bệnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

Nhiều khi chúng ta quên mất mình cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Trong khi khám bệnh, đôi khi chúng ta khuyên bệnh nhân chữa trị bệnh không hẳn có, không rõ rệt và ngay cả khi không cần thiết.

Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền.

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, hạ thấp họ xuống để nâng mình lên. Điều đó đang xảy ra trong ngành y và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm mình. Tôi trả giá đắt cho bài học này. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

Thứ hai là đa số chúng ta khi bắt đầu công việc đều chưa có "cảm giác" đối với bệnh nhân. Cho dù trong bệnh viện hay nhà thương tư cũng có vô số bệnh nhân để chữa trị. Tôi chỉ muốn bệnh nhân rời phòng làm việc của tôi càng sớm càng tốt. Đó là sự thật và trở thành một công việc bình thường hằng ngày.

Tôi đã thực sự hiểu bệnh nhân nghĩ về mình thế nào chăng? Thực ra là không. Nỗi lo sợ và lo âu của bệnh nhân và những thứ khác mà họ đã trải qua. Thực ra tôi cũng không biết đến khi tôi lâm trọng bệnh và đó là một sai lầm to nhất của hệ thống y khoa tân tiến. Chúng ta được huấn luyện để trở thành những chuyên gia y cũng như nha khoa nhưng chúng ta lại không hiểu bệnh nhân cảm nhận chúng ta như thế nào.

Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bệnh nhân.

Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp. Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bệnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi.

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bệnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất... Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, hãy với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm đều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vậy. Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe qua thật mơ hồ, nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.

Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Điều này đã xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự tốt đẹp cho đời sống của người khác. Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình. Sự thật không như tôi đã tưởng.

Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt. Đừng giống như tôi. Tôi không còn cách nào khác và đã phải trả giá đắt cho bài học...".

Vương Linh
Nguồn Bác sĩ đa khoa

Nghề Y phải có đam mê và lòng yêu thương con người

Trong đợt dịch sởi vừa qua, đã rất nhiều lần Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai tổ chức lễ ra viện cho những ca bệnh nặng được cứu sống. Nơi này là tuyến cuối nên để hạn chế thấp nhất các ca tử vong do sởi, ngoài chuyên môn giỏi đòi hỏi ở đây cần có những con người giàu lòng nhiệt tình, đam mê và tình yêu thương con người…
Có những điều chưa thấy trong y văn

Chỉ mấy ngày trước, tại Khoa Nhi đã làm lễ ra viện cho bé T.N (9 tháng tuổi), bị biến chứng viêm não do sởi, nhiều lần các bác sĩ tưởng bé không qua khỏi, thậm chí gia đình còn xin về. Đây là ca biến chứng viêm não trong giai đoạn cấp của sởi đầu tiên mà PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng- Trưởng khoa Nhi từng gặp và là trường hợp rất hiếm.

“Lúc đầu biết bệnh của cháu rất nặng, khó qua khỏi nên gia đình muốn xin cho cháu về nhà nhưng các bác sĩ khuyên gia đình còn tia hy vọng chúng tôi vẫn hết sức cứu cháu. Nhờ thế mà cháu mới có cơ hội sống”, người nhà của bé T.N cho biết.

Trong đợt dịch sởi vừa qua, đã có 16 trường hợp tử vong tại Khoa Nhi. Đó là một con số khiến PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng và các đồng nghiệp của mình không bao giờ quên được trong cuộc đời làm nghề. Nhiều trẻ được cứu sống rồi, về nhà lại mắc và phải vào viện lần thứ 2, lần thứ 3. Đó là những điểm mà chưa hề có trong y văn.

Ngay từ đầu mùa dịch, với sự nhạy cảm của một bác sĩ giàu kinh nghiệm, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng đã thấy các dấu hiệu nguy hiểm của những ca mắc sởi dựa trên triệu chứng lâm sàng. Rồi mọi thứ diễn ra đúng như dự đoán của anh, sởi đã tấn công dồn dập và khốc liệt lên những đứa trẻ. Chưa bao giờ thấy trẻ bị sởi biến chứng nhanh như thế. Nếu ai vào Khoa Nhi trong mấy tháng qua sẽ không khỏi xúc động. Ở đó như một chiến trường, các y bác sĩ là những chiến sĩ thực thụ trên trận địa chống sởi.

Máy móc chỉ là một phần
Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, mặc dù bệnh sởi có phác đồ điều trị nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được 80%, còn nữa là cần sự nhạy cảm của người thầy thuốc. Chúng tôi dựa vào tình hình thực tế bệnh nhân để có những điều trị phù hợp nhất.

“Có nhiều yếu tố để điều trị một căn bệnh thành công. Về trang thiết bị, ví dụ như với bệnh nhân sởi thì máy thở hiện đại là cần thiết. Vì những trẻ bị sởi thường bị tổn thương phổi. Phải sử dụng nhiều mốc thở để phù hợp với mức độ tổn thương phổi. Tuy nhiên, muốn sử dụng máy tốt thì người điều dưỡng phải theo dõi thật kỹ lưỡng để điều chỉnh máy thế nào cho phù hợp với từng bệnh nhân. Ngoài ra, có những trường hợp sởi bị biến chứng sang tim thì các bác sĩ phải dùng thuốc trụy tim mạch. Khi nào thì tăng liều, khi nào giảm liều…tất cả những điều này phụ thuộc rất nhiều vào thông tin từ các điều dưỡng”, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng cho biết.

 “Trình độ chuyên môn giỏi chưa đủ mà bác sĩ cần phải nắm được tất cả các khâu để phối hợp với nhau cho nhịp nhàng. Từ trong trái tim họ luôn có những trăn trở. Họ hiểu trách nhiệm cứu được một đứa trẻ phải dồn công sức rất lớn. Khi một bệnh nhân tử vong thì chúng tôi đau buồn thực sự bằng cả trái tim của mình, chứ không hề sáo rỗng”, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng trải lòng.

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng chia sẻ: “Trong hoạn nạn, tình người được thể hiện rõ hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ tôi thấy gia đình bệnh nhân lại yêu quý bác sĩ chúng tôi như thế. Không ai to tiếng, không ai phàn nàn, nếu bình thường sẽ khó có điều đó vì ai cũng muốn chữa cho con mình trước. Chưa bao giờ chúng tôi được quan tâm nhiều như thế, từ tất cả các cấp lãnh đạo, điều đó làm cho chúng tôi quên đi những mệt mỏi”.

“Ngoài chuyên môn vững, là một người quản lý cần phải đưa ra những quyết định đúng để đồng nghiệp họ tin mình, kết quả cuối cùng là cứu sống trẻ. Để thành công phải có ngọn lửa đam mê và lòng yêu thương con người. Lòng yêu thương không nhất thiết phải nói ra mà qua các hành động, rồi ai cũng sẽ nhận thấy điều đó”, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng tâm sự.
Nghề y phải có đam mê và lòng yêu thương con người
Nguồn Bác sĩ đa khoa

Các giáo sư, các thầy thuốc tài năng của ngành sản phụ khoa luôn nhớ về GS. Đinh Văn Thắng, người thầy tận tụy và mẫu mực, có tâm hồn và nhân cách lớn, là người sáng lập - lãnh đạo ngành với nhiều cống hiến lớn cho việc bảo vệ sức khỏe phụ nữ và bà mẹ Việt Nam.
Người Thầy Của Ngành Phụ Sản - Giáo Sư Đinh Văn Thắng
GS. Đinh Văn Thắng

Vinh dự lớn đến với GS. Đinh Văn Thắng, một trong 5 gia đình đại diện cho nhân dân Thủ đô trong đêm giao thừa Tết Canh Tý. Đêm 27/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thân tình, giản dị như người cha đến với con cháu, đã đến thăm ông và gia đình tại nhà riêng - số 15 phố Chân Cầm - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Sau những phút hồi hộp đưa Hồ Chủ tịch đi xem bếp của nhà có vệ sinh không, theo lời của Người, Bác ngồi nói chuyện thân mật với giáo sư và 4 con của ông. Rất xúc động được gặp Bác, GS. Thắng không nói được nhiều, ông kính chúc Bác mạnh khỏe. Bác cười  vui: “Mạnh khỏe thì tốt lắm, không cần bác sĩ nữa”. Bác hỏi tình hình công tác, việc học tập của các cháu và việc chuẩn bị Tết  của gia đình.  Bác chia kẹo và bảo các cháu hát cho Bác nghe. Con trai đầu là Đinh Thế Cảnh ngày thường tính  nhút nhát, đã xung phong hát bài “Đêm hoa đăng”.  Bác nhắc giáo sư chuyển lời Bác chúc Tết tới vợ ông, bà  Nguyễn Thị Hảo không được gặp Bác vì đang bận trực ở nhà hộ sinh Cầu Đất. Bác còn nhờ giáo sư  chuyển lời thăm và chúc Tết tới cán bộ, nhân viên và người bệnh ở Bệnh viện Bạch Mai và các Bệnh viện khác ở Thủ đô. Niềm vui và vinh dự lớn đó đã  khích lệ GS. Đinh Văn Thắng trong suốt quá trình công tác và hoạt động của mình.

Người Viện trưởng đầu tiên - người sáng lập, xây dựng ngành phụ sản Việt Nam  

Hà Nội mới giải  phóng, ngoài mấy nhà hộ sinh tư, việc chăm lo sinh sản cho phụ nữ cả thành phố trông cậy chủ yếu vào Khoa sản Bệnh viện Bạch Mai. Phòng cho các bà mẹ chật hẹp, các bác sĩ phải mổ với thiết bị phương tiện thiếu thốn. Khoa không có phòng xét nghiệm và khu chăm sóc trẻ  sơ sinh. 

GS. Đinh Văn Thắng đã tích cực đề nghị Nhà nước bổ sung cán bộ và cung cấp thêm dụng cụ, các thiết bị và thuốc chuyên khoa để triển khai việc đỡ đẻ, mổ đẻ, tăng thêm việc khám chữa bệnh phụ khoa, thành lập khu chăm sóc trẻ sơ sinh, xây dựng phòng xét nghiệm, nâng cao các kỹ thuật trong việc mổ lấy thai, mổ rò bàng quang âm đạo. 

Sau 5 năm, Khoa sản Bệnh viện Bạch Mai đã được phát triển, theo sự đề nghị tích cực của Giáo sư, ngày 8/11/1960, Bộ Y tế đã quyết định thành lập Bệnh viện chuyên khoa Phụ sản có địa điểm tại phố Triệu Quốc Đạt - Tràng Thi, Hà Nội.

Sau 5 năm, Bệnh viện đã có nhiều  chuyển biến, GS. Thắng lại trăn trở, day dứt với tình trạng  phụ nữ  Việt Nam có nhiều bệnh  mới, nhiều tai biến sinh sản và  tử vong. Ông đã dành nhiều thời gian gặp lãnh đạo Bộ, viết báo cáo giải trình để thuyết phục các cơ quan Đảng, Nhà nước về sự cần thiết phải thành lập một Viện chuyên ngành, ngoài việc chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh, còn phải tổ chức nghiên cứu khoa học, chỉ  đạo các địa phương và tham gia đào tạo cán bộ.

Mặc dù cả nước đang bận rộn đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, ngày 14/5/1966, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định thành lập Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương). Bệnh viện chuyên khoa Phụ sản và Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh đã khám chữa bệnh cho hàng vạn chị em phụ nữ - bà mẹ ở Hà Nội và các tỉnh, đảm bảo gia đình hạnh phúc, mẹ tròn con vuông. Các thế hệ cán bộ, thầy thuốc, nhân viên của Viện  kế tục xứng đáng công lao vun đắp xây dựng Viện của GS. Đinh Văn Thắng, đã nỗ lực phấn đấu không ngừng đưa Bệnh viện ngày một  trưởng thành và phát triển.

Người thầy thuốc tận tụy  
Người Thầy Của Ngành Phụ Sản - Giáo Sư Đinh Văn Thắng
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết  GS. Đinh Văn Thắng và gia đình  vào đêm giao thừa Tết Canh Tý (27/1/1960).

GS. Đinh Văn Thắng luôn trực tiếp đi sâu, đi sát công tác chuyên môn; hằng ngày đi thăm khám bệnh, kiểm tra các bệnh phòng, thăm hỏi từng bệnh nhân. Bất kể mùa hè hay mùa đông, khoảng  22 giờ đêm ông thường tới Bệnh viện thăm bệnh nhân nặng và cho hướng xử lý từng ca khó. 

BS. Hoàng Sinh kể: “Đến giờ đi kiểm tra các khoa  phòng, thầy  thường đi giày lính cao cổ. Đế giày đóng cá sắt và có các đinh tù lồi ra. Khi thầy đi, tiếng giày va vào sàn nhà vang lên tiếng  kêu cồm cộp. Thầy nói: “Tôi không là lính, nhưng đi giày lính, tiếng nó kêu to. Thấy tiếng giày trước cửa phòng này, phòng kia sẽ biết tôi sắp vào, để mà chuẩn bị. Kẻo đến lúc tôi vào mới vội vàng sắp xếp thì mất thì giờ chung”. Thầy yêu cầu  khoa phòng và bệnh nhân: phải sạch sẽ, chiếu nằm trong phòng phải đồng màu, chăn gối xếp gọn, quần áo sạch sẽ, nhân viên phải lo cho bệnh nhân áo quần lành lặn (rách thì phải vá). Bà Đào Thị Hợp, y tá, người đã theo giáo sư từ  năm 1955 đến 1974  đã xúc động kể: “Khi  giáo sư  đến khoa  thăm bệnh nhân. Tôi bưng khay thuốc đi theo đến từng giường bệnh. Mỗi tình trạng bệnh khác nhau, thầy đều giải thích và căn dặn chúng tôi cách phục vụ, chăm sóc thích hợp, nhất là phải ân cần nói cho bệnh nhân hiểu, động viên để họ an tâm, không lo lắng, căng thẳng. Giáo sư bảo đấy là thứ thuốc quý nhất đối với người bệnh”.

PGS. Đinh Thế Mỹ nhớ lại: “Giáo sư rất nghiêm khắc với việc thực hiện các quy tắc chuyên môn, thầy phê bình bác sĩ, kỹ thuật viên đội mũ len dưới mũ phẫu thuật”. 

Người thầy giáo mẫu mực 

GS. Đinh Văn Thắng là người thầy mẫu mực, mô phạm, song toàn cả về lý thuyết khoa học và thực hành,  với phương pháp sư phạm tuyệt vời. GS. Nguyễn Khắc Liêu, PGS. Đinh Thế Mỹ, TS. Phạm Thị Hoa Hồng và nhiều đồng nghiệp, học trò còn ấn tượng sâu sắc về các phương pháp giảng dạy của thầy. Qua các buổi khám, đi kiểm tra các khoa phòng, giao ban - là các giờ học bồi dưỡng thực tế sinh động và bổ ích cho các bác sĩ và sinh viên. Thầy đã chọn các ca phức tạp điển hình, ca bệnh đã tử vong hay những xử lý chưa tốt của các tua trực để phân tích, giải thích, nhận xét để giúp cho các bác sĩ và sinh viên thực tập cùng học hỏi.

PGS. Đinh Thế Mỹ hồi nhớ: “GS. Đinh Văn Thắng là một  nhà phẫu thuật giỏi, mổ tỉ mỉ và đẹp, các lớp mổ rõ ràng, sạch sẽ như tranh vẽ. Gặp trường hợp khó, ông thường nhắm mắt lại suy nghĩ vài phút rồi mới mổ tiếp chứ không vội vàng”. Để được như thế, bên cạnh những năng khiếu bẩm sinh, bản thân ông đã phải khổ luyện nhiều năm, kể từ khi còn là sinh viên y khoa. Học trò các thế hệ đã học tập  nhiều qua phong cách mổ của thầy.

GS. Nguyễn Khắc Liêu cảm động kể lại: “Có lần, trên cùng một người bệnh, thầy mổ một bên buồng trứng, còn bên kia, thầy phụ cho tôi mổ; lần khác, thầy chọn hai bệnh nhân giống nhau, thầy  mổ một và tôi phụ cho thầy, sau đó với bệnh nhân thứ hai, thầy phụ cho tôi mổ hoàn toàn”. Nhiều thầy thuốc tài năng trưởng thành, có tay nghề cao: có 6 giáo sư, 6 phó giáo sư, nhiều bác sĩ chuyên khoa 2 đảm nhiệm các chức vụ quan trọng ở Viện, ở Trường và các địa phương là học trò của ông. Đào tạo được nhiều bác sĩ giỏi là niềm say mê của giáo sư và ông luôn  nhắc nhở mọi người hãy tự vươn lên để đạt  trình độ cao hơn.
Nhà khoa học với một nhân cách lớn

Tâm đức - tận tụy vì người bệnh, vì sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ thể hiện qua việc giáo sư dày công, tận tâm nghiên cứu áp dụng những kỹ thuật, thủ thuật, phương pháp mới để làm tốt hơn việc khám, chữa bệnh. Ngay từ những năm đầu ở Khoa sản Bệnh viện Bạch Mai, GS. Đinh Văn Thắng - Trưởng khoa và về sau với tư cách Giám đốc Bệnh viện Phụ sản, Viện trưởng Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh và Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, đã quan tâm đến công tác nghiên cứu khoa học. Giáo sư đã nghiên cứu và hướng dẫn sinh viên cùng nghiên cứu những đề tài phục vụ thực tế, phục vụ đông đảo phụ nữ và bà mẹ Việt Nam.

Giáo sư  yêu cầu các bác sĩ phải tích cực đọc sách báo chuyên môn. Ông chủ trì các buổi sinh hoạt khoa học định kỳ của Viện và của Hội nhằm cập nhật các kiến thức mới, các kết quả nghiên cứu khoa học của Viện và các nước. Các nội san của Hội Sản phụ khoa, các tập kỷ yếu công trình khoa học của Viện, của ngành được xuất bản đều đặn

Thầy tổ chức các lớp học bổ túc về chuyên môn và ngoại ngữ Anh văn cho cán bộ Viện. Tuy đã 60 tuổi, nhưng thầy vẫn tham dự lớp học đều đặn và nghiêm túc.

Trong cuộc sống, GS. Đinh Văn Thắng là người giản dị, tác phong đĩnh đạc, lịch thiệp, quần áo chỉnh tề, hay mặc áo vét hoặc áo blu-dông và đeo  cra-vát. Buổi sáng ông chỉ uống một ly cà phê đen rồi tới bệnh viện bằng xe đạp hoặc xe máy Mô-by-lét. Khi các giáo sư có tiêu chuẩn ô tô riêng,  thầy chỉ dùng  ô tô khi đi họp hoặc đi công tác các tỉnh. Thầy là tấm gương về quan  hệ với mọi người, quan tâm  đến cán bộ và người thân của họ, coi trọng những người làm việc hiệu quả.

Năm 1973, giáo sư bị ốm nặng, phải vào điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô. Cán bộ Viện lo sức khỏe cho ông, thì ông lại lo việc phát triển sau này của Viện và căn dặn phải coi trọng việc đào tạo chuyên môn, xây dựng  đội ngũ kế cận. Nhiều hoài bão, dự định còn dang dở, nhưng thầy đã ra đi mãi mãi vào ngày 2/1/1974. Tang lễ của giáo sư đã được tổ chức trọng thể, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã đến viếng và dự lễ tang. Hàng vạn  đồng nghiệp, học trò  và nhân dân đã đến tiễn đưa giáo sư trên các đường phố Hà Nội.

Năm 2000, Nhà nước đã truy tặng GS. Đinh Văn Thắng Giải thưởng  Nhà nước về khoa học công nghệ về tập hợp các công trình cho ngành sản phụ khoa, góp phần thực hiện chiến lược con người của Đảng, Nhà nước ta.

Giáo sư đã đi xa được hơn 35 năm, nhưng hình ảnh thầy  vẫn  còn mãi trong tất cả những người đã từng  làm việc hoặc đã được  gặp ông. Các thế hệ lãnh đạo, bác sĩ, CBNV của Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương) đã dựng tượng kỷ niệm GS. Đinh Văn Thắng ở giữa khuôn viên của Viện và giảng đường lớn của Viện mang tên ông,  để nhắc nhở mọi người theo gương ông, một thầy thuốc mẫu mực, một nhà khoa học có nhân cách lớn.
Nguồn: Báo Sức khỏe và Đời sống

Giáo sư Tôn Thất Tùng
Hiệu trưởng trường đại học Y Hà Nội
Cha đẻ của phương pháp Tôn Thất Tùng trong phẫu thuật gan.
Người cống hiến trọn đời cho y học Việt Nam
Cuộc đời giáo sư Tôn Thất Tùng


Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng (1912-1982) là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Viện sĩ Viện hàn lâm Y học Liên Xô. Ông còn là một giáo sư, đào tạo ra nhiều thế hệ bác sĩ tài năng tại trường Đại học Y khoa Hà Nội. Con ông, bác sĩ Tôn Thất Bách, cũng là một bác sĩ nổi tiếng.



Thời thanh niên

Ông sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912 tại Thanh Hóa và lớn lên ở Huế. Xuất thân từ một gia đình quý tộc nhà Nguyễn (thân sinh ông là cụ Tôn Thất Niên, Tổng đốc Thanh Hóa), nhưng ông không theo nghiệp học làm quan, do đó vào năm 1931, ông ra Hà Nội theo học tại trường Trung học Bảo Hộ (tức trường Bưởi - trường Chu Văn An ngày nay). Năm 1935, ông học tại Trường Y khoa Hà Nội, một trường thành viên của Đại học Đông Dương, với quan niệm nghề y là một nghề "tự do", không phân biệt giai cấp.

Lúc bấy giờ, Trường Y Hà Nội là trường y duy nhất của cả Đông Dương trước 1945, khi đó có lệ các sinh viên y khoa bản xứ chỉ được thực tập ngoại trú, không được dự các kỳ thi "nội trú", do chính quyền thuộc địa không muốn có những bác sĩ bản xứ có trình độ chuyên môn cao có thể cạnh tranh với bác sĩ của chính quốc. Trong thời gian làm việc ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã rất bất bình với việc này và đã đấu tranh đòi chính quyền thực dân phải tổ chức cuộc thi nội trú cho các bệnh viện ở Hà Nội vào năm 1938. Ông là người duy nhất trúng tuyển một cách xuất sắc trong kỳ thi khóa nội trú đầu tiên của trường và mở đầu tiền lệ cho các bác sĩ nội trú người bản xứ.

Cũng trong giai đoạn này, trong một lần phát hiện trong gan của một người bệnh có giun chui ở các đường mật, ông đã nảy ra ý tưởng dùng những lá gan bị nhiễm giun để phẫu tích cơ cấu của lá gan. Trong suốt thời gian từ năm 1935 đến năm 1939, chỉ bằng một con dao nạo thô sơ, ông đã phẫu tích trên 200 lá gan của tử thi để nghiên cứu các mạch máu và vẽ lại thành các sơ đồ đối chiếu. Trên cơ sở đó, ông đã viết và bảo vệ thành công luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa với nhan đề "Cách phân chia mạch máu của gan". Với bản luận án này, ông đã được tặng Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris (mà Trường Đại học Y - Dược tại Hà Nội lúc bấy giờ là một bộ phận). Bản luận án được đánh giá rất cao và trở thành tiền đề cho những công trình khoa học nổi tiếng của ông.

Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông được giao nhiệm vụ chữa bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thời gian đó, ông đã viết cuốn sách tóm tắt kinh nghiệm nghiên cứu về giun với vấn đề "Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật". Đây là cuốn sách khoa học thuộc ngành Y được xuất bản đầu tiên tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Một thời gian sau, ông được cử làm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn và cùng với giáo sư Hồ Đắc Di, ông đã bắt tay xây dựng Trường Đại học Y Hà Nội. Sau khi Pháp nổ súng tái xâm lược Đông Dương, ông tham gia tổ chức cứu chữa thương bệnh binh, xây dựng các tuyến mổ xẻ như ở mặt trận Tây Nam Hà Nội cùng các bác sĩ Nguyễn Hữu Trí, Hoàng Đình Cầu... Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, ông vẫn tham gia tổ chức điều trị, phát triển ngành y tế, đồng thời với nghiên cứu khoa học, với đào tạo sinh viên, xây dựng nền tảng trường Y khoa Việt Nam, dù phải di chuyển nhiều lần, ở nhiều địa bàn như Vân Đình, Hà Đông (1946), Lăng Quán, Tuyên Quang (1947), Phù Ninh, Phú Thọ (1948), Đại Lục, Phú Thọ (1949), Chiêm Hóa, Tuyên Quang (1950)... Ông cũng được cử làm làm cố vấn phẫu thuật ngành quân y ở Bộ Quốc Phòng. Cũng trong thời gian này, cùng với Giáo sư Đặng Văn Ngữ, ông đã góp phần sản xuất Penicillin phục vụ thương bệnh binh trong điều kiện dã chiến. Năm 1947, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế và giữ chức vụ này cho tới năm 1961.


Từ năm 1954, ông làm Giám đốc bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, và giữ cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược Hà Nội. Ông đề cao việc tiếp thụ y học phương Tây để xây dựng và phát triển nền y học của Việt Nam, nghiên cứu bệnh tật và chữa trị cho người Việt Nam, đi đầu trong việc áp dụng các kỹ thuật phát triển ngành ngoại khoa Việt Nam. Ông là người đầu tiên mổ tim ở Việt Nam nǎm 1958. Trong những năm 1960, ông đã nghiên cứu thành công phương pháp "cắt gan có kế hoạch", thường được gọi là "phương pháp mổ gan khô" hay "phương pháp Tôn Thất Tùng". Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học dioxin đến con người và môi trường tại Việt Nam, phương pháp điều trị các vết thương do bom bi, phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp dùng miễn dịch và rất nhiều công trình khoa học khác.

Ông mất ngày 7 tháng 5 năm 1982 tại Hà Nội, thọ 70 tuổi.

Những thành tựu, cống hiến

Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng là một người say mê nghiên cứu khoa học y học, với mong muốn đưa nền y học Việt Nam sánh ngang với các nước trên thế giới. Ngoài công trình về cách phân chia mạch máu trong gan gửi về Viện hàn lâm Pháp, được tặng Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris, ông còn để lại 123 công trình khoa học, đặc biệt là một trong những nhà khoa học đầu tiên xây dựng phương pháp mổ gan mang tên ông.

Một số danh hiệu và giải thưởng

-        Anh hùng Lao động (1962)

-        Viện sĩ viện Hàn lâm Y học Liên Xô

-        Hội viên Hội quốc gia những nhà phẫu thuật Cộng hòa Dân chủ Đức

-        Thành viên Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris

-        Hội viên Hội Những nhà phẫu thuật Lyon (Pháp)

-        Thành viên Hội Quốc gia Những nhà phẫu thuật Algeri

-        Huy chương phẫu thuật quốc tế Lannelongue (1977)

-        Huân chương Hồ Chí Minh (1992)

-        Huân chương Lao động hạng Nhất

-        Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất

-        Huân chương Kháng chiến hạng Ba

-        Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996)

Từ năm 2000, Nhà nước Việt Nam đặt ra một giải thưởng về Y học mang tên ông: Giải thưởng Tôn Thất Tùng.

Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa II đến khóa VII và giữ chức vụ Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Gia đình

Năm 1944, ông kết hôn cùng bà Vi Thị Nguyệt Hồ. Bà từng được xem là một hoa khôi Hà Thành và là cháu nội của Tổng đốc Hà Đông Vi Văn Định. Ông bà có với nhau 3 người con, đều theo ngành y, trong đó nổi tiếng nhất là Phó Giáo sư - Viện sĩ, Bác sĩ Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội.

Những nhận định về ông

Giáo sư Malêghi, Pháp (báo Lyon Phẫu thuật - 1964): "Trường Đại học Y khoa Hà Nội có thể tự hào đã có hai thành tựu trong lịch sử của mình, một là đã nghiên cứu lần đầu tiên về cơ cấu các mạch trong gan, hai là lần đầu tiên đã thành công trong việc cắt gan có kế hoạch".

Đặng Hồi Xuân, cố Bộ trưởng Bộ Y tế nhận xét: "Cuộc đời của GS. Tôn Thất Tùng là một bài học sống động và phong phú, một tấm gương trong sáng đối với những người đang sống, nhất là đối với những người làm công tác khoa học và đối với thanh niên".
Nguồn Bác sĩ đa khoa

Giáo sư Hồ Đắc Di

Cuộc đời sự nghiệp Giáo sư Hồ Đắc Di

Đến với cách mạng từ lòng yêu nước

GS Hồ Đắc Di sinh ngày 11/5/1900, đúng vào ngày Phật Đản năm Canh Tý theo lịch âm, trong một danh gia vọng tộc ở cố đô Huế, một dòng họ có tới năm nàng dâu là công chúa, công nữ, và số thượng thư, tổng đốc khó đếm hết.



Ông nội GS Di là cụ hầu tước Hồ Đắc Tuấn đỗ cử nhân nho học, kết hôn với Công nữ Thức Huấn, con gái Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, một nhà thơ nổi tiếng thời nhà Nguyễn. Phủ đệ Tùng Thiện vương nay là một điểm du lịch ở cố đô Huế. Cha GS cụ Khánh Mỹ Quận công Hồ Đắc Trung, cử nhân nho học, kết hôn với Công nữ Á Nam.


GS Hồ Đắc Di, Hiệu trưởng Đại học Y kháng chiến ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang

Là con trai một vị Quận công, cho nên trong gần 13 năm du học ở Bordeaux, rồi Paris, anh thanh niên Hồ Đắc Di thường được bạn bè người Pháp gọi một cách trang trọng pha chút trêu đùa là Prince Ho Dac (Công tước Hồ Đắc), tựa như Công tước Andrey Bolkonsky trong bộ tiểu thuyết trường thiên bất hủ Chiến tranh và hoà bình của đại văn hào Nga Lev Tolstoy.

Năm 1918, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất vừa kết thúc, mìn ở Địa Trung Hải còn chưa quét hết, anh thanh niên họ Hồ Đắc lên đường sang Paris du học. Ở Pháp lúc ấy đã có khá nhiều người Việt Nam.  Yêu sách về Quyền của các dân tộc do Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, được báo chí Pháp công bố, gây tiếng vang rất lớn. Anh sinh viên Hồ Đắc Di thường lui tới câu lạc bộ sinh viên An Nam ở Pháp. Tại đây, anh được gặp những nhà yêu nước nổi tiếng.

Sau này, GS Hồ Đắc Di kể lại trong hồi ký của mình:

“Một sự kiện đặc biệt để lại ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức của tôi. Hồi ấy, tôi thường đến trụ sở Hội Sinh viên An Nam tại 15 phố Sommerard, khu Latin, Paris. Một sáng chủ nhật, tôi đi với anh bạn Dương Văn Giáo, người Nam Kỳ, luật sư tập sự. Chúng tôi đến trụ sở Hội để gặp gỡ bạn bè. Trụ sở có hai phòng: phòng ngoài để sách, báo cho sinh viên xem; phòng trong bày bàn ghế tiếp khách. Nhìn vào phòng trong, tôi thấy có ba người đang ngồi nói chuyện. Một người nhiều tuổi, để râu. Một người béo, lùn. Và một người trẻ tuổi, xanh xao, dong dỏng cao.

- Cậu có biết ba người kia là ai không? - Anh Giáo hỏi tôi.

 - Biết một. Người để râu là cụ Phan Chu Trinh. - Tôi nói.

 - Người béo, lùn là luật sư Phan Văn Trường - anh Giáo tiếp lời. - Còn người trẻ, gầy là ông Nguyễn Ái Quốc đấy!

Ba tiếng “Nguyễn Ái Quốc” khiến tôi bàng hoàng xúc động! Thì ra con người mà tôi hằng nghe bạn bè nói tới, con người đã cất cao tiếng nói đanh thép đòi quyền chính đáng cho dân tộc Việt Nam - một việc làm can đảm khiến bất cứ người Việt Nam nào có chút lòng yêu nước cũng phải cảm thấy tự hào - con người ấy đang ngồi trước mặt tôi kia!

Sau hôm ấy, tôi còn thấy ông Nguyễn Ái Quốc một lần nữa tại trụ sở Hội Sinh viên An Nam.

Lúc bấy giờ, anh em sinh viên chúng tôi thường lặng lẽ đem đi bán những số báo Người cùng khổ và Việt Nam hồn trong bà con người Việt tại Paris.

Năm 1919, mặc dù hoàn toàn chưa có một ý niệm gì về cách mạng Việt Nam nhưng tôi vẫn thầm cảm phục hành động yêu nước nồng nhiệt và lòng quả cảm vô song của ông Nguyễn Ái Quốc. Cho nên, năm 1945, khi được biết phong trào Việt Minh là do ông Nguyễn Ái Quốc sáng lập (nhờ một tờ truyền đơn ai đó lùa qua khe cửa) là tôi yên tâm: Chính nghĩa đây rồi! Độc lập, Tự do đây rồi! Và khi được thấy con người mảnh khảnh năm xưa thường lui tới số nhà 15 phố Sommerard, nay tóc đã điểm bạc, lưa thưa chòm râu cằm, cất cao giọng Nghe đọc Tuyên ngôn Độc lập thì niềm tin của tôi càng thêm vững chắc.”

Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao cho GS Hồ Đắc Di (người Việt Nam duy nhất được Toàn quyền Đông Dương công nhận chức danh giáo sư đại học trước năm 1945) nhiều trọng trách: Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội, Tổng Thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Vụ Đại học, và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (trên chỗ đất nay là Bệnh viện trung ương quân đội và Bệnh viện Hữu nghị). GS Di hăm hở lao vào công việc. Nhưng chẳng được bao lâu...

Chiều 17/12/1946, vừa mổ xong một ca, đang rửa tay, thay áo, ông bỗng nhận được lệnh trên: “Tình hình hết sức nghiêm trọng! Phải rời Hà Nội ngay!”

Băn khoăn, lo lắng nhưng ông quyết chí ra đi.

Xây dựng Đại học Y giữa rừng sâu

Một tháng sau. Trường Y tiếp tục giảng dạy trong nhà đồng bào ở làng Vân Đình (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Pháp đánh ra Vân Đình, trường chuyển lên Việt Bắc, dừng lại tại huyện Chiêm Hoá (Tuyên Quang).

Ngày 6/10/1947, Trường Đại học Y kháng chiến làm lễ khai giảng năm học mới. Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia Võ Nguyên Giáp đã đến dự. Đến dự còn có nhiều vị trong Chính phủ và Quốc hội: Hoàng Tích Trí, Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Bá Trực… GS Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, chủ trì buổi lễ. Giáo sư Hiệu trưởng Hồ Đắc Di đọc một bài diễn văn đầy xúc động, rất sâu sắc, đến nay vẫn còn giữ được nguyên văn.

Ngay hôm sau, 7/10, Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc. Chúng đốt Bệnh viện thực hành của Trường Y bên làng Ải, giết một bệnh nhân và đốt luôn ngôi nhà sàn của BS Tôn Thất Tùng ở bên đó. Thầy và trò phải vượt con ngòi Quẵng, lánh sang làng Bình, rồi ẩn náu vào rừng sâu hai tháng, cho đến khi quân Pháp rút lui.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, ngày nay, ngồi đọc lại những trang viết của GS Hồ Đắc Di trong những năm ở Việt Bắc, ta không khỏi cảm phục trước tầm nhìn xa rộng đối với giáo dục đại học cũng như đối với ngành y.

Ngay từ năm 1947, GS Di đã chỉ rõ:

“Trường đại học là một cộng đồng trong đó thầy và trò cùng có chung một niềm khát khao học hỏi qua tự do trao đổi ý kiến để đạt đến chân lý, để thấu hiểu một cách đúng đắn giá trị của sức mạnh trí tuệ. Đó chính là bí quyết của tinh thần đại học (...). Trong lao động tập thể, trong không khí thân mật, ấm áp, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò, óc phê phán khoa học, đóa hoa đẹp nhất của trí tuệ con người, sẽ có đất để phát huy, nở rộ.”

Đó là mối quan hệ thầy trò hoàn toàn mới, theo tinh thần dân chủ, khoa học, và nhân bản.

GS Di sớm cho rằng trường đại học phải “vừa là trung tâm giảng dạy, vừa là trung tâm nghiên cứu”. Ông viết: “Giảng dạy và nghiên cứu là hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm chỉ là sảnh chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm.” (Trích từ Sứ mạng và vai trò của trường đại học - 1949).

Về sau, ông nói rõ thêm: “Trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang hình thành khoa học.”

Là “người thầy đầu tiên” của GS Tôn Thất Tùng

Chúng ta đều biết, GS Tôn Thất Tùng luôn luôn tự hào về “người thầy đầu tiên” của mình là GS Hồ Đắc Di. Sau khi đã trở thành viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới, GS Tôn Thất Tùng viết: “Cụ Hồ Đắc Di thường dạy tôi: Khoa học là sự nổi dậy của tư duy. Đã làm khoa học là phải luôn luôn đặt lại vấn đề. Nếu không, thì chẳng còn gì để tìm kiếm nữa! Và cũng chẳng có gì để phát minh!”

Còn GS Hồ Đắc Di thì cho rằng “người thầy giáo nào càng đào tạo được nhiều học trò giỏi hơn mình thì càng hạnh phúc”. Ông đòi hỏi các giáo sư đại học: “phải phát hiện trong đám sinh viên những người có năng khiếu tìm tòi, rèn luyện cho họ óc quan sát, tính tò mò, tinh thần phê phán, khơi gợi ở họ lòng khát khao hiểu biết, bồi dưỡng cho họ trí tưởng tượng (...), biết vươn lên trên các sự kiện riêng lẻ, làm quen với các quy luật, biết suy luận một cách biện chứng, trung thực tuyệt đối trước các sự kiện” (Xem Sứ mạng và vai trò trường đại học - 1949).


GS Di luôn luôn đề cao y đức. Ông nhấn mạnh nghề thầy thuốc là “nghề không dung thứ bất cứ thứ gì trái đạo đức bởi vì nó liên quan đến cái tinh tế nhất là sự sống của con người”.


GS Di cho rằng, “nhờ kết hợp giữa khoa học và văn hoá mà người thầy thuốc xứng đáng với thiên chức cao quý của mình”. Ông thường nhắc các đồng nghiệp trẻ phải trau dồi văn hoá, coi văn hoá là gốc rế, kỹ thuật là ngọn cành; dù thành thạo kỹ thuật đến đâu mà đầu óc nghèo nàn về văn hoá, thì cũng chưa thể gọi là người trí thức, theo đúng nghĩa của từ này.

Nhớ về người thầy của mình, vào dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Trường Đại học Y Hà Nội, GS Phạm Khuê viết: “Sự nghiệp của cụ Di là sự nghiệp khoa học. Cuộc sống của cụ Di là cuộc sống của một triết nhân.”

Trước Cách mạng Tháng Tám, GS Hồ Đắc Di đã công bố 37 công trình nghiên cứu trên các tạp chí y học của Pháp ở Paris cũng như ở Viễn Đông. Một số công trình của ông có ý nghĩa mở đường… Những công trình này, gần đây, Đại học Y Hà Nội mới tìm lại được.

GS Hồ Đắc Di đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I một phần do các công trình về “quan điểm, đường lối, phương pháp luận đào tạo cán bộ y tế Việt Nam sau năm 1945”, và phần khác do “công trình biên khảo Sinh học và bệnh học đại cương”.

GS Hồ Đắc Di qua đời ngày 25/6/1984 tại Hà Nội, thọ 84 tuổi. Để tưởng nhớ ông như một danh nhân, chính quyền Thủ đô đã quyết định đặt tên ông cho một con phố: phố Hồ Đắc Di. Đó là con phố nối liền với phố Tôn Thất Tùng, phố Phạm Ngọc Thạch và phố Đặng Văn Ngữ - tên tuổi những người thầy thuốc tài đức vẹn toàn của nền y học Việt Nam hiện đại.

Thành tích Nghiên cứu khoa học và đào tạo của GS. Hồ Đắc Di

Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa làm tại Paris, Giáo sư Hồ Đắc Di là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ dày-tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày- tá tràng gây ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó. Đây là cách điều trị bảo tồn, được mang tên Ông, được nhiều sách giáo khoa, nhiều công tình nhắc đến và thừa nhận giá trị trong suốt 30-40 nǎm.

Các công trình khoa học sau này của GS. Hồ Đắc Di (1937-1945) thường đứng tên chung với đồng nghiệp (như GS. Huard, GS. Meyer-May…), với cộng sự và học trò (Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng…) với nội dung giải quyết các bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và lạc hậu. Viêm tụy có phù cấp tính do Ông phát hiện từ 1937 đã mở đường cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng vào những nǎm sau. Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do thương hàn cũng có đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật, hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa. Các phân tích thống kê phẫu thuật, cùng với Huard, được đǎng ở báo Y học Viễn Đông ấn hành ở Paris, rất được các nước nhiệt đới coi trọng và tham khảo rộng rãi. Giáo sư là người đầu tiên ở nước ta nghiên cứu tình trạng sốc do chấn thương, được báo trên đǎng tải (1944) cùng nhiều công trình có giá trị khác, như Phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc ở Bắc Kỳ (1944), Phẫu thuật chữa loét dạ dày-tá tràng ở Bắc Kỳ (1944). Tạp chí Viện Hàn lâm phẫu thuật đǎng Thủng túi mật hiếm gặp, 1937; viêm phúc mạc do thủng ruột trong thương hàn, 1939…); báo Y học Hải ngoại của Pháp đǎng Một kỹ thuật mới mổ lấy thai nhi.

Với 21 công trình hiện tìm được trong 37 công trình đã công bố, Ông là nhà phẫu thuật đầu tiên, xứng đáng là bậc thầy đầu tiên với các công trình mở đường cho những hướng nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo sư người Việt đầu tiên.
Nguồn Bác sĩ đa khoa ( St)

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.